Tháng Chín 21, 2020

Chương trình ca nhạc hàng đầu Việt Nam

Nhã Tây

Vào ngày 7 tháng 11 năm 2003, UNESCO đã trao tặng vị thế di sản thế giới cho 28 di tích của các quốc gia như là kiệt tác của di sản truyền miệng và phi vật thể của nhân loại. Trong số 11 kiệt tác của châu Á, nha nhac (nhạc hoàng gia) đại diện cho di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam để được đưa vào danh sách này.

Hội đồng UNESCO đã thẩm định âm nhạc hoàng gia Việt Nam theo các thuật ngữ sau: Âm nhạc hoàng gia Việt Nam đại diện cho một nền âm nhạc thanh lịch và tinh tế. Nó liên quan đến âm nhạc được biểu diễn trong các triều đình và vào các ngày kỷ niệm khác nhau, các lễ hội tôn giáo, và vào những dịp đặc biệt như vậy. Trong số các thể loại khác nhau được phát triển ở Việt Nam, chỉ có âm nhạc hoàng gia là quốc gia.

Nha nhac (nhạc hoàng gia Việt Nam) và các nguyên tắc của nó đã đến Việt Nam dưới thời nhà Hồ (1400-1407). Nhà Hồ, tuy nhiên, chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nên Nha Nhac nhanh chóng rơi vào quên lãng. Năm 1427, Lê Lợi đánh bại quân xâm lược nhà Minh Trung Quốc và giải phóng đất nước. Tuy nhiên, Nha Nhắc chỉ bắt đầu phát triển dưới triều đại của vua Lê Thánh Tông (1460-1497) và đạt đến đỉnh cao dưới triều Nguyễn (1802-1945).


Nha nhac là thể loại nhạc học thuật. Nó thu hút sự tham gia của nhiều nhạc sĩ và nhạc sĩ tài năng, với nhiều nhạc cụ truyền thống.

Từ bây giờ, nha nhac sẽ được bảo tồn, phát triển và phổ biến trong và ngoài nước.

Dân ca

Nơi sinh của dân ca quan ho là tỉnh Bắc Ninh. Trong các lễ hội làng, được tổ chức hàng năm, đặc biệt là vào mùa xuân, thanh niên nam nữ tập trung tại sân của một ngôi nhà chung hoặc chùa, trên một ngọn đồi, hoặc trong một chiếc thuyền chèo, và hát quan ho. Đây là một phong cách hát mà các bài hát xen kẽ từ nhóm này sang nhóm khác.


Hát ho ho là một nghệ thuật dân gian có tính tập thể cao. Những người hát không phải là nghệ sĩ giải trí, nhưng tất cả đều là một phần của màn trình diễn, và Bất kỳ ai cũng được chào mời tham gia.

Các bài hát dân gian Quan ho Bac Ninh đã được ghi vào Danh sách đại diện của Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào ngày 30 tháng 9 năm 2009.

Ca trù hát (Di sản văn hóa phi vật thể)

May mắn thay ca trù hiện đang lấy lại sự nổi tiếng và ảnh hưởng đến thế hệ trẻ. Các học giả nghiên cứu đã truy tìm nguồn gốc của ca trù đến các khu vực văn hóa cao cấp, như cố đô của Thăng Long (Hà Nội ngày nay), Hà Tây, v.v. Các nghệ sĩ tài năng vĩ đại đã thực hành nghệ thuật, bao gồm Quách Thị Hồ, Thượng Huyền, Kim Dzung, v.v ... Một số người trong số họ hiện đang ở độ tuổi bảy mươi, nhưng những người kế vị trẻ hơn đã nở rộ và giữ lời hứa tuyệt vời.


Ca trù là nơi gặp gỡ thơ và nhạc. Những người quen thuộc với những câu thơ cổ như luc bat (sáu âm tiết tám âm tiết) và hat doi (hát tung qua lại giữa các nhóm thanh niên nam nữ), và có khả năng đồng cảm với những tình cảm được thể hiện trong âm thanh của một trống nhỏ hoặc vi phạm hai chuỗi, có nhiều khả năng thưởng thức đầy đủ một bài hát ca trù.

Nhạc Ca trù thú vị nhất khi có sự hòa hợp hoàn toàn giữa các từ được hát, nhịp điệu được đánh dấu bằng một thanh tre nhỏ do ca sĩ cầm một khối gỗ hoặc tre nhỏ gọi là phach, và, cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, sự đánh giá cao được thể hiện bởi một người đàn ông trong số khán giả đánh trống nhỏ vào những thời điểm thích hợp.

Ca Ca hát đã được ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp vào ngày 1 tháng 10 năm 2009.

Không gian văn hóa công ở Tây Nguyên

Không gian văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên của Việt Nam bao gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Các bậc thầy về văn hóa cồng chiêng là các dân tộc Ba Na, Xô Đăng, MiênNong, Cổ Hồ, Ro Mam, E De, Gia Rai Phong Các buổi biểu diễn cồng chiêng luôn gắn chặt với các nghi lễ và nghi lễ văn hóa cộng đồng của các dân tộc ở Tây Nguyên. Nhiều nhà nghiên cứu đã phân loại cồng chiêng là nhạc cụ nghi lễ và âm thanh cồng chiêng như một phương tiện để giao tiếp với các vị thần và các vị thần.

Cồng chiêng được làm bằng hợp kim đồng thau hoặc hỗn hợp đồng thau, vàng, bạc và đồng. Đường kính của chúng là từ 20 cm đến 60cm hoặc từ 90cm đến 120cm. Một bộ chiêng bao gồm 2 đến 12 hoặc 13 đơn vị và thậm chí 18 hoặc 20 đơn vị ở một số nơi.

Ở hầu hết các dân tộc, cụ thể là Gia Rai, Ede Kpah, Ba Na, Xo Dang, Brau, Co Ho, v.v., chỉ những người đàn ông mới được phép chơi cồng chiêng. Tuy nhiên, trong các nhóm khác như nhóm Ma và MiênNong, cả nam và nữ đều có thể chơi cồng chiêng. Rất ít nhóm dân tộc (ví dụ, E De Bih), cho phép chiêng chỉ được thực hiện bởi phụ nữ.

Đối với phần lớn các dân tộc ở Tây Nguyên, cồng chiêng là nhạc cụ của sức mạnh thiêng liêng. Người ta tin rằng mỗi chiêng là sự định cư của một vị thần trở nên mạnh mẽ hơn khi chiêng già hơn. "Thần chiêng" luôn được coi là vị thần hộ mệnh cho cuộc sống cộng đồng. Do đó, cồng chiêng gắn liền với tất cả các nghi thức trong cuộc sống của một người, như khánh thành nhà mới, đám tang, hiến tế trâu, nghi thức cầu nguyện mùa màng, thu hoạch mới, lễ cầu nguyện cho sức khỏe của người dân và gia súc, lễ ra quân và lễ kỷ niệm chiến thắng.

Các không gian văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên được đánh dấu bằng những dấu ấn không gian và thời gian.Thông qua các thể loại, phương pháp khuếch đại âm thanh, thang âm thanh và gam màu, giai điệu và nghệ thuật trình diễn, chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc về một nghệ thuật phức tạp phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn đến đa kênh. Nó chứa các lớp lịch sử khác nhau của sự phát triển của âm nhạc kể từ thời kỳ nguyên thủy. Tất cả các giá trị nghệ thuật có mối quan hệ tương đồng và khác biệt, mang lại bản sắc khu vực của họ. Với sự đa dạng và độc đáo của nó, có thể khẳng định rằng chiêng giữ một vị thế đặc biệt trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Vào ngày 25 tháng 11 năm 2005 tại Paris, Pháp, không gian văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là một kiệt tác truyền miệng và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Xoan Hát hoặc Hat Xoan

Hát Xoan là một sản phẩm văn hóa dân gian của Phú Th? tỉnh. Điểm cuối cùng mà Xoan đi cùng được hát trong các ngôi làng chung là vào mùa xuân năm 1945. May mắn thay, khi chúng tôi nghiên cứu hát Xoan vào cuối tháng 8, có một cơ hội để gặp các ca sĩ và nhạc sĩ đã từng hát trong Xoan đi cùng trong những ngày xưa.

Có thể nói, tiếng hát Xoài vẫn còn khắc sâu trong ký ức của những nghệ sĩ dân gian có thể thực hiện nó trong nhà chung trong lễ hội. Trước đây, tiếng hát Xoan thuộc về bốn làng, An Thái, Thét, Phù ?? c và Kim? Ái của huyện H? C Trì, Phú Th? tỉnh. Sau khi đổi mới, làng An Thái thuộc làng Ph ?? ng, thành phố Trì, và Thét, Phú ?? c và Kim? Ái thuộc về Kim ?? c, huyện Phù Ninh, Phú Th? tỉnh. Theo các nghệ sĩ dân gian, trong bốn ngôi làng đó, phong cách hát của Xoan đi cùng với làng An Thái tương tự như làng Thét và làng Phù ?? tương tự như Kim? Tuy nhiên, chính sự khác biệt về thứ tự tiết mục, từ ngữ và số lượng vũ công, v.v ... cũng tạo nên phong cách độc đáo của mỗi làng.

Năm 1998, cùng với việc thành lập câu lạc bộ hát Xoan ở các xã Kim ?? và làng An Thái, xã Ph ?? ng mang về sức sống mới cho tiếng hát Xoan. Thế hệ nghệ sĩ dân gian cao tuổi ngày xưa luôn cố gắng hết sức để truyền lại những sáng tác của con cháu theo phong cách hát cũ. Vào ngày 18 tháng 8 vừa qua, Ủy ban Nhân dân của xã Kim ?? đã mở một lễ hội của cuộc thi hát Xoan để tăng niềm đam mê và niềm tự hào của dân làng đối với nghệ thuật đặc biệt của địa phương. Apon chúng tôi đến, dân làng của mỗi làng Xoan đang tích cực luyện tập và hoàn thiện các tác phẩm để có thể tìm thấy một Xoan đi kèm cho mỗi làng theo chính sách của Sở Văn hóa và Thông tin của Phú Ph? tỉnh. Sự quan tâm của chính quyền và sự đóng góp nhiệt tình của dân làng là tin tốt cho nghệ thuật hát Xoan trong cuộc sống ngày nay.

Con rối nước việt nam

Múa rối nước là một nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Việt Nam có niên đại từ bia Sung Thiên Linh tại chùa Doi (thuộc huyện Duy Tiến, tỉnh Nam Hà) vào năm 1121 (dưới triều Lý). Nó ghi dòng chữ rằng con rối nước đầu tiên sau đó được dàn dựng để tôn vinh tuổi thọ của nhà vua.

Do điều kiện tự nhiên và các hoạt động nông nghiệp của họ chính những người nông dân Việt Nam là những người tạo ra nghệ thuật biểu diễn này. Các chương trình múa rối nước thường diễn ra trong quá khứ khi công việc đồng áng thường được hoàn thành, vào thời điểm mùa xuân hoặc trong các lễ hội. Người Pháp trước đây gọi nghệ thuật trình diễn này với các nhân vật bù nhìn nhẹ nhàng là "linh hồn của những cánh đồng lúa Việt Nam với sự sáng tạo và ý thức khám phá". Múa rối nước nên được xếp hạng trong số các hình thức quan trọng nhất của Nhà hát múa rối.

Cách sử dụng nước để kích hoạt con rối và che giấu bộ máy thao túng và thao tác của chương trình tạo thành sự sáng tạo tuyệt vời nhất. Nước mang đến hơi thở cho những con rối, và khiến chúng trông sống động. Vai trò của nước rất có ý nghĩa, như câu nói giải thích: "Nước cũng trở thành một nhân vật của chương trình múa rối".

Mặt nước nhấp nhô nhẹ nhàng với một đàn vịt đang bơi trở nên lãng mạn trong bức màn khói huyền ảo khi một nhóm tiên nữ hạ cánh để hát và nhảy múa. Nó cũng trở nên sôi sục và giận dữ trong các trận hải chiến hoặc khi những con rồng mạnh mẽ xuất hiện.

Một tờ báo của Pháp đã viết: Các nhân vật bù nhìn được điều khiển bằng một sự thông minh không thể tưởng tượng được. Giống như họ được chỉ huy bởi một sức mạnh ma thuật. " Nhận xét này cũng thể hiện sự hấp dẫn và sáng tạo của chương trình múa rối nước.



Giọng Ca Bất Bại |Tập 1 full: Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng bất ngờ với hàng loạt giọng ca siêu "quái kiệt" (Tháng Chín 2020)